I. DÀN Ý

1. Mở bài:

- Thái phó Tô Hiến Thành và Thái sư Trần Thủ Độ là hai vị quan đầu triều nổi tiếng trung thành, nghiêm minh, chính trực.

- Gương sáng của các ông đã được các sử gia ghi chép và ca ngợi trong cuốn Đại Việt sử lược.

2. Thân bài:

* Bài học nhân cách rút ra từ câu chuyện về Tô Hiến Thành.

- Tô Hiến Thành giữ chức Tể tướng dưới triều vua Lí Anh Tông (thế kỉ 12).

- Trước khi băng hà, vua Lí Anh Tông dặn dò Tô Hiến Thành hãy phò tá hoàng tử thứ sáu là Long Cán lên ngôi.

- Nhà vua mất, Thái hậu muốn phế Long Cán, lập Long Sưởng (hoàng tử lớn) nên nhằm lúc Tô Hiến Thành đi sứ, bà mang vàng lụa đến nhà hối lộ vợ ông, nhờ nói giúp.

- Tô Hiến Thành không đồng ý. Thái hậu gây áp lực rồi mua chuộc, ông vẫn giữ vững lời hứa với Tiên Vương.

- Bài học rút ra từ câu chuyện trên chính là lòng trung thành tuyệt đối. Lòng trung thành là cái đức lớn nhất, là yêu cầu cao nhất của bề tôi đối với vua. Thái phó Tô Hiến Thành xứng đáng là bậc trung thần nghĩa sĩ.

* Bài học rút ra từ câu chuyện về Thái sư Trần Thủ Độ.

- Trần Thủ Độ tuy ít học nhưng tài trí hơn người. Ông có công dựng nên nhà Trần; được vua phong chức Thái sư, đứng đầu triều đình.

- Có người tâu với vua là ông lộng quyền, lấn át cả vua.

- Ông không chối, lại còn ban thưởng cho người đó. Hành động ấy thể hiện ông là người chính trực.

- Phu nhân của ông trách người lính cấm vệ là coi thường bà (vì bắt bà xuống kiệu khi vào cung). Ông hỏi han cặn kẽ rồi khen và ban thưởng cho anh ta. Hành động ấy cho thấy ông tôn trọng nguyên tắc: pháp bất vị thân.

- Phu nhân xin cho người cháu chức câu đương, ông yêu cầu anh ta phải chặt chân làm dấu (thực chất là để răn đe).

- Nhà vua muốn phong cho anh trai Trần Thủ Độ làm tướng, ông thẳng thắn từ chối vì không muốn gây ra những phiền luỵ về sau, khi cả hai anh em đều giữ chức vụ lớn trong triều. Điều này chứng tỏ ông có tầm nhìn, tầm suy nghĩ xa rộng, thấu đáo, vượt lên thói thường: Một người làm quan, cả họ được nhờ.

3. Kết bài:

- Từ những gương sáng nêu trên, chúng ta có thể rút ra nhiều bài học quý báu trong quá trình rèn luyện nhân cách để trở thành người có tài, có đức.

- Tên tuổi của Tô Hiến Thành, Trần Thủ Độ sống mãi với sử sách, với lòng ngưỡng mộ, kính phục của nhiều thế hệ người Việt.

II. BÀI LÀM

Cổ nhân có câu: Vi nhân nan, tức là làm người khó. Quả là khó thật vì trên đời không ai toàn vẹn cả (Nhân vô thập toàn). Tuy vậy, trong sử sách nước ta vẫn có những gương sáng muôn đời về phẩm chất cao quý, xứng đáng để mọi thế hệ suy ngẫm và học tập. Các tác giả của cuốn Đại Việt sử lược đã dành những bài viết ca ngợi Thái phó Tô Hiến Thành và Thái sư Trần Thủ Độ, hai vị quan thuộc hàng tứ trụ triều đình nổi tiếng là thanh liêm, cương trực.

Tô Hiến Thành giữ chức Tể tướng dưới triều vua Lí Anh Tông, kiêm chức Thái phó giúp việc cho Thái tử Lí Cao Tông. Năm sinh của ông chưa được xác định rõ, còn năm mất là 1179. Ông là người có nhân cách lớn, một lòng vì dân vì nước.

Có một câu chuyện kể rằng trước khi băng hà, vua Lí Anh Tông dặn dò Tô Hiến Thành hãy phò tá Long Cán - hoàng tử thứ sáu - lên nối ngôi. Lúc đó Long Cán mới ba tuổi, cho nên mọi việc lớn nhỏ trong triều đều giao cho Thái phó Tô Hiến Thành đảm nhiệm. Thái hậu (mẹ vua) lại muốn phế Long Cán để lập Long Sưởng (thái tử đã bị truất quyền nối ngôi) làm vua nên nhân lúc Tô Hiến Thành đi sứ, bèn sai người mang vàng lụa đến nhà gặp bà vợ, nhờ nói lại ý đó với ông. Nghe vợ nói xong, Tô Hiến Thành khảng khái trả lời: Ta ngôi Tể tướng, nhận lời cố thác của Tiên Vương để phò ấu chúa. Nay nhận đồ hối lộ của người mà mưu phế lập, thiên hạ sẽ nói ta như thế nào? Giá như mọi người đều là kẻ bưng tai bịt mắt không biết, thì ta biết lấy lời lẽ nào để trả lời Tiên Vương ở dưới suối vàng?

Lời đáp của Thái phó Tô Hiến Thành chứa đựng bài học về lòng trung thành tuyệt đối. Vua Lí Anh Tông đã hoàn toàn tin tưởng ở ông nên mới giao trọng trách cho ông. Nay dù Tiên Vương đã mất, nhưng Tô Hiến Thành vẫn không thể phụ lòng tin ấy, muối mặt nhận hối lộ để người đời phỉ nhổ, bêu riếu và đắc tội với Tiên Vương ở dưới suối vàng.

Dùng cách hối lộ không được, Thái hậu chuyển sang dùng áp lực. Bà mời Tô Hiến Thành đến và bảo rằng: Ông đối với nước nhà, có thể gọi là trung đấy! Song, tuổi ông đã xế chiều mà thờ ấu chúa thì việc làm của ông ai người biết đến? Chi bằng, lập vua đã trưởng thành thì người đó sẽ đem ơn đức mà ban cho. Ông giữ được phú quý lâu dài há chẳng nên ư? Như vậy là miếng mồi phú quý lâu dài đã được bà tung ra nhằm lung lạc lòng trung của Tô Hiến Thành. Nhưng ông đã dám phủ nhận ý kiến của Thái hậu, giữ vững sự trung tín của mình: Bất nghĩa mà được phú và quý, đó không phải là điều người trung thần nghĩa sĩ vui làm. Huống chi, lời di chúc của Tiên Vương còn ở bên tai. Đối với công luận sẽ như thế nào? Thần không dám vâng lời. Rồi ông phản ứng gay gắt bằng hành động rảo bước ra ngoài.

Ông không chỉ bảo vệ ấu chúa Lí Cao Tông (tức Long Cán) bằng lí lẽ mà còn bằng hành động quyết liệt là ra lệnh cho quan lại cấp dưới hãy hết sức vì vương thất, không ăn ở hai lòng và tuyên bố: Kẻ trái mệnh ta sẽ bị giết phơi ngoài chợ.

Lúc lâm bệnh nặng, quan Thái phó Tô Hiến Thành được quan Tham tri chính sự Vũ Tán Đường ngày đêm hầu hạ bên cạnh. Trong khi đó thì Gián nghị đại phu Trần Trung Tá bận bịu nhiều việc, không lúc nào rảnh rang để đến thăm, Thái hậu hỏi Tô Hiến Thành: Nếu có mệnh hệ nào, ai thay ông? Ông trả lời không do dự: Người mà ngày thường thần biết, chỉ có Trung Tá mà thôi. Thái hậu trách ông sao không nghĩ đến công lao hầu hạ của Vũ Tán Đường mà tiến cử ông ta, thì Tô Hiến Thành vẫn một mực khẳng định: Thái hậu hỏi người thay thần, nên thần nói tới Trung Tá; nếu hỏi người hầu hạ phụng dưỡng thần thì phi Tán Đường còn ai nữa ? Điều đó cho thấy thái độ của Tô Hiến Thành về việc công, việc tư rất rõ ràng và theo quan điểm của ông thì người gánh vác trọng trách của đất nước dứt khoát phải thực sự có tài, có đức.

Những suy nghĩ và lời nói của Tô Hiến Thành đã đạt đến mức độ cặn kẽ, thấu đáo, có lí, có tình. Với ông, bề tôi phải đặt chữ trung lên hàng đầu, sau đó là chữ tín. Bất trung, bất tín thì không xứng là bậc chính nhân quân tử, mà chỉ là hạng giá áo túi cơm hèn hạ mà thôi.

Nếu ở triều đình nhà Lý có Tô Hiến Thành kiên trung, thì ở triều đình nhà Trần có Trần Thủ Độ cương trực, thao lược. Trần Thủ Độ tuy ít học nhưng thông minh, sáng suốt hơn người. Nhờ có công lớn lập ra nhà Trần nên ông được phong chức Thái sư - chức quan cao nhất trong triều, có quyền tham gia ý kiến trong mọi việc chính sự. Ở ông, nổi bật nhất là tính cách thẳng thắn, trung thực và không vụ lợi. Về quyền lực mà nói, thì Thái sư hơn cả vua Trần Thái Tông thời bấy giờ.

Có người tâu lên nhà vua trẻ tuổi rằng Trần Thủ Độ lấn lướt, lạm quyền. Vua hỏi, Thái sư không chối mà khẳng định là đúng như lời người ấy nói. Sau đó còn ban thưởng tiền bạc, gấm vóc cho anh ta. Vua Trần Thái Tông coi Trần Thủ Độ (chú ruột) như cha nên vô cùng tin tưởng, cho rằng nếu Thái sư có làm như vậy thì cũng chỉ vì lo cho dân, cho nước mà thôi.

Thói thường, một người làm quan, cả họ được nhờ; nhưng Trần Thủ Độ thì không như thế. Bà vợ ông xin cho một người cháu họ chức câu đương (chức dịch nhỏ ở xã, chuyên lo việc bắt giữ và áp giải phạm nhân), Trần Thủ Độ phản đối khéo bằng cách ra điều kiện phải chặt một ngón chân để phân biệt với các câu đương khác, khiến anh ta sợ hãi xin thôi. Ông làm thế để răn đe những kẻ hay nhờ vả. Đặc biệt hơn nữa là, khi vua Thái Tông ngỏ ý muốn phong cho người anh của Thủ Độ là An Quốc làm tướng, Thủ Độ chân thành đáp: An Quốc là anh thần, nếu là người hiền thì thần xin nghỉ việc, còn như cho thần là hiền hơn An Quốc thì không nên cử An Quốc. Nếu anh em cùng là tướng thì việc trong triều đình sẽ ra sao?

Câu nói ấy đã phản ánh nhân cách cao đẹp và tầm nhìn xa rộng của Thái sư - người có tài kinh bang tế thế. Trần Thủ Độ đã lường trước được tất cả những điều không hay sẽ xảy ra khiến nhà vua lâm vào tình cảnh khó xử, nếu như cả hai anh em ông đều giữ những chức vụ trọng yếu trong triều đình. Can ngăn nhà vua bằng lời lẽ tâm huyết, chính trực như thế, Thái sư Trần Thủ Độ đã thể hiện đạo đức chí công vô tư của một vị quan liêm khiết, xứng đáng là bậc trung thần hiếm có trong lịch sử.

Từ những gương sáng như Tô Hiến Thành, Trần Thủ Độ,... chúng ta có thể rút ra những bài học quý giá trong quá trình tu dưỡng, rèn luyện nhân cách. Chính lí tưởng vì nước vì dân là cơ sở nền tảng chi phối tư tưởng, đạo đức, suy nghĩ và hành động của hai danh nhân đó. Tên tuổi, sự nghiệp và phẩm giá cao đẹp của các ông được lưu truyền muôn thuở trong niềm kính phục và yêu mến của nhiều thế hệ người Việt.