I. DÀN Ý

1. Mở bài:

* Vài nét về tác giả:

- Hoàng Phủ Ngọc Tường sinh năm 1937 tại Huế ; quê gốc ở làng Bích Khê, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.

- Tốt nghiệp Sư phạm Sài Gòn 1960 và Đại học Huế 1964. Dạy học tại trường Quốc học Huế.

- 1966, ông lên chiến khu tham gia chống Mĩ bằng hoạt động văn hoá văn nghệ.

- Hoàng Phủ Ngọc Tường sáng tác từ năm 1960, chuyên về bút kí, tuỳ bút. Các tác phẩm của ông có phong cách độc đáo, thấm đượm truyền thống đặc trưng của văn hoá Huế.

* Vài nét về tác phẩm:

- Ai đã đặt tên cho dòng sông ? là bài bút kí tác giả viết ở Huế năm 1981, in trong tập bút kí cùng tên.

- Đoạn trích nằm ở phần đầu, ca ngợi vẻ đẹp của sông Hương, thông qua đó ca ngợi vẻ đẹp thơ mộng của cố đô Huế ; ca ngợi lịch sử vẻ vang, chiều sâu văn hoá xứ Huế và tâm hồn người Huế. Tác giả coi sông Hương là biểu tượng của thiên nhiên và con người đất cố đô. Bài viết thể hiện lòng yêu nước, niềm tự hào của tác giả về non sông gấm vóc, về những giá trị tinh thần thiêng liêng và cao quý của dân tộc.

2. Thân bài:

* Vẻ đẹp của sông Hương ở thượng nguồn:

- Đó là vẻ đẹp phóng khoáng và man dại, rầm rộ, mãnh liệt, một bản trường ca của rừng già khi con sông chảy qua giữa lòng dãy Trường Sơn hùng vĩ.

- Sông Hương có vẻ đẹp dịu dàng và trí tuệ khi trở thành người mẹ phù sa của một vùng văn hoá đất đế đô.

- Muốn hiểu hết vẻ đẹp của sông Hương trong hiện tại và tương lai thì chúng ta phải hiểu nguồn cội và vẻ đẹp tâm hồn của dòng sông.

* Vẻ đẹp sông Hương đoạn chảy qua kinh thành Huế:

+ Khi đi qua đồng bằng:

- Sông Hương như người con gái đẹp được người tình đánh thức, bỗng bừng lên sức thanh xuân và niềm khao khát tình yêu, hạnh phúc.

- Sông Hương có vẻ đẹp lung linh, biến ảo khi phản quang nhiều màu sắc của nền trời sớm xanh, trưa vàng, chiều tím.

- Có vẻ đẹp trầm mặc khi lặng lẽ chảy dưới chân những rừng thông tịch mịch với những lăng mộ âm u, niềm kiêu hãnh của các vua chúa triều Nguyễn.

- Có vẻ đẹp mang màu sắc triết lí, cổ thi khi đi trong âm hưởng ngân nga của tiếng chuông Thiên Mụ, giữa những xóm làng trung du bát ngát tiếng gà.

+ Khi đi qua ngoại ô thành phố:

- Có vẻ đẹp vui tươi khi đi qua những biền bãi xanh biếc vùng ngoại ô Kim Long.

- Có vẻ đẹp dịu dàng mềm mại như một tiếng “vâng” không nói ra của tình yêu.

+ Khi đi qua thành phố:

- Nhìn bằng con mắt của hoạ sĩ, tác giả thấy các nhánh của sông Hương tạo ra những đường nét tinh tế làm nên vẻ đẹp cổ kính của đất cố đô.

- Qua sự cảm nhận bằng âm nhạc, tác giả thấy sông Hương đẹp như điệu slow chậm rãi, sâu lắng, trữ tình.

- Sông Hương là cội nguồn của dòng nhạc cung đình Huế, là cảm xúc của Nguyễn Du để viết Truyện Kiều.

+ Khi ra khỏi thành phố:

- Sông Hương có vẻ đẹp mơ màng trong sương khói khi nó rời xa dần thành phố để đi qua những nương dâu, luỹ trúc và những hàng cau thôn Vĩ Dạ,...

- Sông Hương như một người tình dịu dàng thuỷ chung. Là nỗi vương vấn pha chút lẳng lơ kín đáo của tình yêu.

* Vẻ đẹp của sông Hương nhìn từ góc độ lịch sử.

- Sông Hương từng là dòng sông bảo vệ biên thuỳ Tổ quốc thời Đại Việt.

- Từng soi bóng kinh thành Phú Xuân của Nguyễn Huệ.

- Từng chứng kiến bao cuộc khởi nghĩa, rồi đến Cách mạng tháng Tám 1945, chiến dịch Mậu Thân 1968,...

* Vẻ đẹp của sông Hương nhìn từ góc độ cuộc đời và thi ca.

- Là dòng sông của thời gian ngân vang, của sử thi viết giữa màu cỏ lá xanh biếc.

- Là bản hùng ca tấu lên bao chiến công trong lịch sử.

- Là nhân chứng nhẫn nại và kiên cường qua bao thăng trầm của cuộc đời.

- Biết hiến mình cho những chiến công rồi trở về với cuộc đời bình thường làm một người con gái dịu dàng của đất nước.

- Sông Hương là nguồn cảm hứng vô tận của các nghệ sĩ từ xưa tới nay.

- Tác giả gắn sông Hương với âm nhạc cổ điển của Huế ; sông Hương, ấy là một người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya. Nguyễn Du từng bao năm lênh đênh trên dòng sông này và có lẽ đã diễn tả điệu Tử đại cảnh của Huế qua tiếng đàn của Kiều: Trong như tiếng hạc bay qua - Đục như tiếng suối mới sa nửa vời...

- Tác giả cho rằng có một dòng thi ca về sông Hương, một dòng thơ không lặp lại mình: ấy là “dòng sông trắng - lá cây xanh” trong cái nhìn tinh tế của Tản Đà; “như kiếm dựng trời xanh” trong khí phách của Cao Bá Quát ; là nỗi quan hoài vạn cổ trong thơ Bà Huyện Thanh Quan ; là sức mạnh phục sinh của tâm hồn, trong thơ Tố Hữu...

- Tác giả lí giải tên dòng sông Hương bằng một huyền thoại đầy chất thơ.

* Cả bài kí toát lên vẻ đẹp diệu kì của sông Hương qua trí tưởng tượng bay bổng, phong phú cùng ngòi bút tài hoa của tác giả.

Tác giả thấy sông Hương có lúc giống như một cô gái Huế, có lúc như là một cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại, nhưng nói chung vẫn là một thiếu nữ tài hoa, dịu dàng, sâu sắc, đa tình và kín đáo, lẳng lơ nhưng rất mực chung tình, khéo trang sức mà không loè loẹt phô phang, giống như những cô dâu Huế ngày xưa kiêu sa trong sắc áo dài màu điều lục.

3. Kết bài:

- Qua bài tuỳ bút, người đọc cảm nhận được vẻ đẹp đa dạng và nên thơ của cảnh sắc thiên nhiên xứ Huế, đặc biệt là sông Hương; thấy được bề dày truyền thống lịch sử, văn hoá xứ Huế và những nét duyên dáng, độc đáo của tâm hồn con người vùng đất cố đô.

- Với một tâm hồn nghệ sĩ tinh tế, một vốn văn hoá đầy đặn, phong phú về Huế và trước hết với một tình cảm gắn bó thiết tha với Huế, tác giả đã huy động triệt để mọi tiềm năng văn hoá cùng với vốn ngôn từ giàu có của mình để phát hiện, diễn tả vẻ đẹp và chất thơ thể hiện tập trung ở dòng sông Hương như một biểu tượng muôn đời của xứ Huế thân yêu.

II. BÀI LÀM

Hoàng Phủ Ngọc Tường sinh năm 1937 tại Huế. Quê gốc ở làng Bích Khê, xã Triệu Long, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, song gần như suốt cuộc đời, ông gắn bó với xứ Huế yêu thương. Tâm hồn nhà văn thấm đẫm đặc trưng của văn hoá Huế. Năm 1960, ông tốt nghiệp ban Việt - Hán Trường Đại học Sư phạm Sài Gòn. Năm 1964, tốt nghiệp khoa Triết - Văn Đại học Huế. Sau đó, ông về dạy tại trường Quốc học Huế. Năm 1966, Hoàng Phủ Ngọc Tường thoát li lên chiến khu, tham gia cuộc kháng chiến chống Mĩ bằng hoạt động văn nghệ. Ông đã giữ các chức vụ: Tổng thư kí Hội Văn học nghệ thuật Trị Thiên - Huế. Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật Bình Trị Thiên. Tổng biên tập tạp chí Cửa Việt. Hoàng Phủ Ngọc Tường là nhà văn có sở trường về bút kí. Các sáng tác của ông có một phong cách riêng khó lẫn, thể hiện ở sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tính trí tuệ và tính trữ tình, giữa nghị luận sắc bén với suy tư đa chiều được tổng hợp từ vốn kiến thức phong phú về triết học, văn hoá, lịch sử, địa lí,... Tất cả được thể hiện qua lối hành văn giàu cảm xúc và tài hoa. Hoàng Phủ Ngọc Tường còn là nhà thơ trữ tình đằm thắm có những vần thơ đậm chất suy tưởng về con người và cuộc đời. Ông được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học và nghệ thuật năm 2007. Tác phẩm chính về văn xuôi: Ngôi sao trên đỉnh Phu Văn Lâu (1971), Rất nhiều ảnh lửa (1979), Ai đã đặt tên cho dòng sông ? (1987), Hoa trái quanh tôi (1995), Ngọn núi ảo ảnh (1999), Miền gái đẹp (2001). Thơ : Những dấu chân qua thành phố (1976), Người hái phù dung (1992)...

Tuỳ bút Ai đã đặt tên cho dòng sông ? được tác giả viết tại Huế tháng 1 - 1981, in trong tập kí cùng tên. Đoạn trích nằm ở phần đầu của thiên tuỳ bút này. Đặc điểm của thể văn tuỳ bút là hết sức lãng mạn, bay bổng, ngẫu hứng, không tuân theo một quy phạm chặt chẽ nào. Nhân vật chính của tuỳ bút là cái tôi của tác giả. Vì thế, muốn hiểu bài văn, người đọc cần phải thấy được cái tôi của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Đó là một cái tôi tài hoa với vốn văn hoá sâu rộng, tâm hồn nhạy cảm, tinh tế, say mê cái đẹp của cảnh vật và con người xứ Huế. Bài kí miêu tả vẻ đẹp của sông Hương, mở rộng ra là xứ Huế đẹp đẽ và thơ mộng; ca ngợi lịch sử vẻ vang, bề dày văn hoá của cố đô Huế và chiều sâu tâm hồn người Huế. Thông qua đó thể hiện lòng yêu nước, niềm tự hào của tác giả về non sông gấm vóc, về những giá trị tinh thần thiêng liêng và cao quý của dân tộc.

Bố cục đoạn trích gồm ba phần:

Phần thứ nhất: Từ đầu đến ...dưới chân núi Kim Phụng: Vẻ đẹp của sông Hương ở thượng nguồn. Phần thứ hai: Tiếp theo đến ...quê hương xứ sở: Vẻ đẹp của sông Hương khi chảy qua đồng bằng, ngoại vi và thành phố Huế rồi đổ ra biển. Phần còn lại: Vẻ đẹp của sông Hương trong mối quan hệ với lịch sử dân tộc, với cuộc đời và thi ca.

Bằng sự quan sát sắc sảo và năng lực cảm nhận tinh tế, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã phản ảnh sinh động và thú vị vẻ đẹp muôn màu muôn vẻ của sông Hương ở thượng nguồn và hạ lưu. Hành trình của sông Hương từ thượng nguồn xuôi về biển là hành trình của tâm hồn xứ Huế, được tác giả miêu tả và thể hiện ở nhiều cung bậc khác nhau: vừa mãnh liệt, sôi nổi ; vừa sâu lắng, thiết tha, vừa bình thản, trí tuệ.

Phần thứ nhất giống như khúc nhạc dạo đầu của bản trường ca về quê hương đất nước với những hình ảnh tuyệt đẹp để lại ấn tượng sâu đậm trong người đọc. Tác giả so sánh sông Hương ở thượng nguồn như một bản trường ca của rừng già với tiết tấu hùng tráng, dữ dội: khi rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn, lúc mãnh liệt vượt qua những ghềnh thác, khi cuộn xoáy như cơn lốc vào những đáy vực sâu, lúc dịu dàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng. Tác giả phát hiện ra vẻ đẹp của sông Hương ở thượng nguồn tựa cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại với một bản lĩnh gan dạ, một tâm hồn tự do và trong sáng... Khi về đồng bằng, chính rừng già đã chế ngự sức mạnh bản năng ở người con gái của mình. Từ đó, sông Hương nhanh chóng mang sắc đẹp dịu dàng và trí tuệ, trở thành người mẹ phù sa của một vùng văn hoá xứ SỞ. Nghệ thuật nhân hoá được sử dụng đắc địa và khai thác tối đa đã mang lại cho sông Hương một linh hồn giống như con người. Theo tác giả, nếu chỉ mải mê nhìn ngắm khuôn mặt kinh thành Huế mà không chú ý tìm hiểu sông Hương từ nguồn cội thì người ta khó mà hiểu hết được bản chất của sông Hương và vẻ đẹp trong phần tâm hồn sâu thẳm của dòng sông mà chính nó đã không muốn bộc lộ. Tác giả đã kín đáo ngụ ý rằng: muốn hiểu đầy đủ về một con người, một miền đất, rộng ra là một đất nước, một dân tộc thì phải biết rõ về quá khứ ; nếu không thì chẳng bao giờ hiểu đúng về hiện tại và xác định được tương lai.

Đoạn tả sông Hương chảy xuôi về đồng bằng và ngoại vi thành phố Huế thể hiện nét lịch lãm, tài hoa trong lối hành văn của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Người đọc cảm nhận được sức hấp dẫn kì lạ toát lên từ hàng loạt động từ diễn tả dòng chảy sống động qua những địa danh khác nhau của xứ Huế, gợi ra những liên tưởng kì thú: Phải nhiều thế kỉ qua đi, người tình mong đợi mới đến đánh thức người gái đẹp nằm ngủ mơ màng giữa cánh đồng Châu Hoá đầy hoa dại. Nhưng ngay từ đầu vừa ra khỏi vùng núi, sông Hương đã chuyển dòng một cách liên tục, vòng giữa khúc quanh đột ngột, uốn mình theo những đường cong thật mềm, như một cuộc tìm kiếm có ý thức để đi tới nơi gặp thành phố tương lai của nó. Từ Tuần về đây, sông Hương vẫn đi trong dư vang của Trường Sơn, vượt qua một lòng vực sâu dưới chân núi Ngọc Trản để sắc nước trở nên xanh thẳm, và từ đó nó trôi đi giữa hai dãy đồi sừng sững như thành quách...vừa mạnh mẽ vừa dịu dàng, sông Hương mềm như tấm lụa khi chảy qua Vọng Cảnh, Tam Thai, Lựu Bảo; có khi ánh lên những phản quang nhiều màu sắc sớm xanh, trưa vàng, chiều tím, êm ả lúc lượn qua những dãy đồi núi phía tây nam thành phố. Dòng sông mang vẻ đẹp trầm mặc khi chảy qua lăng tẩm, đền đài, là giấc ngủ nghìn năm của những vua chúa được phong kín trong lòng những rừng thông u tịch... để rồi sau đó bừng sáng khi gặp tiếng chuông chùa Thiên Mụ ngân nga tận bờ bên kia, giữa những xóm làng trung du bát ngát tiếng gà...

Phải là người con của Huế, gắn bó yêu thương máu thịt với Huế thì Hoàng Phủ Ngọc Tường mới viết được những câu văn đầy chất thơ và rưng rưng cảm xúc như vậy. Ở đoạn này, hai bút pháp kể và tả kết hợp nhuần nhuyễn; sự phối hợp hài hoà giữa màu sắc và âm thanh làm nổi bật vẻ đẹp của từng khúc sông Hương. Tác giả sử dụng khéo léo, tài tình phép tu từ thường thấy trong thơ như so sánh kết hợp với nhân hoá, ẩn dụ... khiến đoạn văn giống như bài thơ trữ tình làm xao xuyến lòng người.

Dường như sông Hương vui tươi hẳn lên giữa những biến bãi xanh biếc của vùng ngoại ô Kim Long, kéo một nét thẳng thực yên tâm theo hướng tây nam - đông bắc, phía đó, nơi cuối đường, nó đã nhìn thấy chiếc cầu trắng của thành phố in ngần trên nền trời, nhỏ nhắn như những vành trăng non. Giáp mặt thành phố ở Cồn Giã Viên, sông Hương uốn một cánh cùng rất nhẹ sang đến Cồn Hến; đường cong ấy làm cho dòng sông mềm hẳn đi, như một tiếng “vâng” không nói ra của tình yêu. Sông Hương giống sông Xen của Pa-ri, sông Đa-nuýp của Bu-đa-pét ở chỗ là đều chảy qua giữa lòng thành phố. Tác giả quan sát và cảm nhận sông Hương ở nhiều góc độ. Ở đoạn này, tác giả miêu tả vẻ đẹp của sông Hương từ góc độ văn hoá. Bằng con mắt của hoạ sĩ, tác giả thấy các nhánh của sông Hương tạo ra những đường nét uyển chuyển, mềm mại, làm nên vẻ đẹp cổ kính của cố đô : Đầu và cuối ngõ thành phố, những nhánh sông đào mang nước sông Hương toả đi khắp phố thị, với những cây đa, cây cửa cổ thụ toả vầng lá u sầm xuống những xóm thuyền xúm xít ; từ những nơi ấy, vẫn lập loè trong đêm sương những ánh lửa thuyền chài của một linh hồn mô tê xưa cũ mà không một thành phố hiện đại nào còn nhìn thấy được. Từ góc độ âm nhạc, tác giả cảm nhận sông Hương giống như điệu slow chậm rãi, sâu lắng, trữ tình: Lúc ấy, tôi nhớ lại con sông Hương của tôi, chợt thấy quý điệu chảy lặng lờ của nó khi ngang qua thành phố... Đấy là điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế, Có thể cảm nhận được bằng thị giác qua trăm nghìn ánh hoa đăng bồng bềnh vào những đêm hội rằm tháng Bảy từ điện Hòn Chén trôi về, qua Huế bỗng ngập ngừng như muốn đi muốn ở, chao nhẹ trên mặt nước như những vấn vương của một nỗi lòng.

Các chi tiết về phong tục, lễ hội qua cảm quan nhạy bén của tác giả cũng trở thành hoạ, thành nhạc, thành tình, thành thơ. Những câu văn dài với nhịp điệu du dương, êm ái làm cho tâm hồn người đọc tràn đầy cảm xúc bâng khuâng, xao xuyến. Với tác giả thì sông Hương là cội nguồn của dòng nhạc cung đình Huế, là cảm xúc của Nguyễn Du để viết Truyện Kiều: Hình như trong khoảnh khắc chúng lại của sông nước ấy, sông Hương đã trở thành một người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya. Đã nhiều lần tôi thất vọng khi nghe nhạc Huế giữa ban ngày, hoặc trên sân khấu nhà hát. Quả đúng như vậy, toàn bộ nền âm nhạc cổ điển Huế đã được sinh thành trên mặt nước của dòng sông này, trong một khoang thuyền nào đó, giữa tiếng nước rơi bán âm của những mái chèo khuya. Nguyễn Du đã bao năm lênh đênh trên quãng sông này, với một phiến trăng sầu. Và từ đó, những bản đàn đã đi suốt đời Kiều. Tôi đã chứng kiến một người nghệ nhân già, chơi đàn hết nửa thế kỉ, một buổi tối ngồi nghe con gái đọc Kiều: “Trong như tiếng hạc bay qua - Đục như tiếng suối mới sa nửa vời...". Đến câu ấy, người nghệ nhân chợt nhổm dậy vỗ đùi, chỉ vào trang sách Nguyễn Du mà thốt lên: “Đó chính là Tứ đại cảnh !”.

Với cái nhìn đắm say của một nghệ sĩ, tác giả thấy sông Hương khi rời thành phố giống như người tình dịu dàng và chung thuỷ. Điều này được diễn tả bằng một phát hiện thú vị: ...Rời khỏi kinh thành, sông Hương chếch về hướng chính bắc, ôm lấy đảo Cồn Hến quanh năm mơ màng trong sương khói, đang xa dần thành phố để lưu luyến ra đi giữa màu xanh biếc của tre trúc và của những vườn cau vùng ngoại ô Vĩ Dạ. Và rồi, như sực nhớ lại một điều gì chưa kịp nói, nó đột ngột đổi dòng, rẽ ngoặt sang hướng đông tây để gặp lại thành phố lần cuối ở góc thị trấn Bao Vinh xưa cổ... Cũng theo tác giả, khúc quanh rẽ ngoặt thật bất ngờ đó có một cái gì rất lạ với tự nhiên và rất giống con người, tựa như một nỗi vương vấn và dường như còn có cả một chút lẳng lơ kín đáo của tình yêu... Ra biển, sông Hương rất nhở thành phố. Nỗi nhớ ấy đọng trong lời thề : “Còn non, còn nước, còn dài, còn về, còn nhớ...”. Lời thề ấy vang vọng khắp lưu vực sông Hương thành giọng hò dân gian; ấy là tấm lòng người dân nơi Châu Hoá xưa mãi mãi chung tình với quê hương xứ sở. Vẫn là so sánh kết hợp với nhân hoá ẩn dụ nhưng tác giả đã sáng tạo ra những hình ảnh đầy ấn tượng, đậm đà nét đẹp văn hoá xứ Huế.

Trong mối quan hệ với lịch sử dân tộc, sông Hương mang vẻ đẹp của một bản hùng ca chiến trận ghi lại những vinh quang từ thuở còn là một dòng sông biên thuỳ xa xôi của đất nước các vua Hùng, thuở nó mang tên là Linh Giang (dòng sông thiêng) trong sách Dư địa chỉ của Nguyễn Trãi. Sông Hương là dòng sông viễn châu đã chiến đấu oanh liệt bảo vệ biên giới phía Nam của Tổ quốc Đại Việt. Nó vẻ vang soi bóng kinh thành Phú Xuân của người anh hùng Nguyễn Huệ vào thế kỉ mười tám; nó sống hết lịch sử bi tráng của thế kỉ mười chín với màu của những cuộc khởi nghĩa; nó chứng kiến thời đại mới với cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 và bao chiến công rung chuyển đất trời qua hai cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược của dân tộc ta. Sông Hương là nhân chứng lịch sử chứng kiến mùa xuân Mậu Thân (1968), thời điểm quân dân ta mở cuộc tổng tiến công vào sào huyệt - Mĩ - nguy và sông Hương cũng chứng kiến tội ác huỷ diệt của chúng đối với các di sản văn hoá, lịch sử trên đất Huế. Sông Hương gắn bó máu thịt với từng con người xứ Huế, là dòng sông của thời gian ngân vang, của sử thi viết giữa màu cỏ lá xanh biếc. Sông Hương không chỉ là bản hùng ca tấu lên bao chiến công trong lịch sử, mà còn là một nhân chứng nhẫn nại và kiên cường qua những thăng trầm của đất nước.

Tuy nhiên làm nên vẻ đẹp giản dị mà khác thường của dòng sông là ở chỗ: Khi nghe lời gọi, nó biết cách tự hiến đời mình làm một chiến công, để rồi nó trở về với cuộc đời bình thường, làm một người con gái dịu dàng của đất nước. Có lẽ chính điều đó đã làm cho sông Hương không bao giờ tự lặp lại mình trong cảm hứng của các nghệ sĩ. Sông Hương gắn với cuộc đời các nghệ sĩ và thi ca. Vẻ đẹp của sông Hương hiện lên muôn màu muôn vẻ trong trí tưởng tượng phong phú của tác giả: Có một dòng thi ca về sông Hương, và tôi hi vọng đã nhận xét một cách công bằng về nó khi nói rằng dòng sông ấy không bao giờ tự lặp lại mình trong cảm hứng của các nghệ sĩ. Mỗi nhà thơ đều có một khám phá riêng về nó: từ xanh biếc thường ngày, nó bỗng thay màu thực bất ngờ, “Dòng sông trắng - lá cây xanh” trong cái nhìn tinh tế của Tản Đà, từ tha thướt mơ màng nó chợt nhiên hùng tráng lên “như kiếm dựng trời xanh” trong khí phách của Cao Bá Quát; từ nỗi quan hoài vạn cổ với bóng chiều bảng lảng trong hồn thơ Bà Huyện Thanh Quan, nó đột khởi thành sức mạnh phục sinh của tâm hồn trong thơ Tố Hữu. Và ở đây, một lần nữa, sông Hương quả thực là Kiều, rất Kiều, trong cái nhìn thắm thiết tình người của tác giả Từ ấy.

Có thể nói nét đặc sắc làm nên sức hấp dẫn đặc biệt của đoạn văn là tình yêu say đắm đối với dòng sông được thể hiện bằng tài năng của một cây bút giàu cảm xúc và trí tuệ, tổng hợp từ một vốn hiểu biết sâu rộng về văn hoá, lịch sử, địa lí, văn chương cùng một văn phong tao nhã và tinh tế. Sông Hương đã sống những thế kỉ quang vinh với nhiệm vụ lịch sử và thẩm mĩ của nó. Trong bài bút kí Ai đã đặt tên cho dòng sông ?, Hoàng Phủ Ngọc Tường khẳng định chân lí: Vẻ đẹp huyền diệu của sông Hương là cội nguồn sinh ra vẻ đẹp của tâm hồn Huế. Trong cảm nhận tinh tế và lãng mạn của tác giả, toàn bộ thuỷ trình của dòng sông tựa như một cuộc tìm kiếm Có ý thức người tình nhân đích thực của người con gái trong một câu chuyện tình yêu nhuốm màu cổ tích. Giá trị nghệ thuật của đoạn văn tăng lên qua từng chi tiết và cuối cùng thì thăng hoa bằng câu chuyện về một nhà thơ già: Có một nhà thơ từ Hà Nội đã đến đây, tóc bạc trắng lặng ngắm dòng sông, mẩu thuốc lá xuống chân cầu, hỏi với trời, với đất, một cậu thật bâng khuâng: Ai đã đặt tên cho dòng sông ?

Để rồi đến phần thứ ba của bài kí, tác giả lí giải tên dòng Hương Giang bằng huyền thoại đầy chất thơ: Người làng Thành Trung có nghề trồng rau thơm. Ở đây có một huyền thoại kể rằng, vì yêu quý con sông xinh đẹp, nhân dân hai bờ sông Hương đã nấu nước của trăm loài hoa đổ xuống dòng sông cho làn nước thơm tho mãi mãi. Ai đã đặt tên cho dòng sông ? Có lẽ huyền thoại trên đã giải đáp câu hỏi ấy chăng ? Giai thoại đó khiến cho dòng sông vốn đã nên thơ càng thêm thơ mộng: Hương là hương thơm của ngàn hoa đổ xuống làm cho làn nước thơm tho mãi mài, Thơm tự ngàn năm, thơm đến ngày nay và ngàn vạn năm sau.

Cả bài bút kí toát lên vẻ đẹp diệu kì của sông Hương bởi trí tưởng tượng phong phú, bay bổng đầy sáng tạo và ngòi bút tài hoa của tác giả. Hoàng Phủ Ngọc Tường đã nhìn sông Hương như một cô gái Huế, có lúc như là một cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại, nhưng nói chung vẫn là một thiếu nữ tài hoa, dịu dàng mà sâu sắc, đa tình và kín đáo, lẳng lơ nhưng rất mực chung tình, khéo trang sức mà không loè loẹt phô phang, giống như những cô dâu Huế ngày xưa kiêu sa trong sắc áo dài màu điều lục.

Bài bút kí Ai đã đặt tên cho dòng sông ? giúp chúng ta cảm nhận được vẻ đẹp nên thơ, nên hoạ, nên nhạc của cảnh sắc thiên nhiên xứ Huế, đặc biệt là sông Hương; thấy được bề dày lịch sử, văn hoá của Huế và những nét duyên dáng riêng của tâm hồn con người vùng đất cố đô này. Với một tâm hồn nghệ sĩ đa tình đa cảm, một vốn văn hoá phong phú về Huế và trước hết với một tình cảm gắn bó thiết tha đối với Huế, tác giả đã huy động triệt để mọi tiềm năng văn hoá cùng với vốn ngôn ngữ giàu có của mình để diễn tả vẻ đẹp và chất thơ của Huế, thể hiện tập trung nhất ở dòng sông Hương - một biểu tượng sinh động của xứ Huế ngàn năm văn hiến.