I. DÀN Ý

1. Mở bài:

- Lí Bạch (701 - 762) là nhà thơ thời Thịnh Đường bên Trung Quốc, được người đời gọi là Thi tiên (Tiên thơ).

- Ông có tài sáng tác thơ. Thơ Lí Bạch biểu hiện tâm hồn tự do, phóng khoáng và khả năng cảm nhận tinh tế trước thiên nhiên, trước cuộc đời.

- Xa ngắm thác núi Lư viết về một thắng cảnh nổi tiếng là thác nước Lư Sơn. Nghệ thuật miêu tả độc đáo đã tạo nên giá trị bất hủ của bài thơ.

2. Thân bài:

* Vẻ đẹp kì vĩ của thác nước núi Lư:

+ Câu đầu:

Nhật chiếu Hương Lô sinh tử yên

(Nắng rọi Hương Lộ khỏi tía bay)

- Đỉnh núi Hương Lô là cái phông nền hoành tráng, tương xứng với vẻ đẹp phi thường của thác nước. Thời điểm miêu tả là vào buổi sáng, mặt trời toả nắng xuống vạn vật, tạo nên cảnh tượng tuyệt vời: Sương và mây bao phủ đỉnh núi Hương Lô, nắng chiếu xuống, hơi nước bốc lên như khói, phản quang ánh sáng mặt trời, chuyển thành màu tía lung linh, huyền ảo...

- Lí Bạch miêu tả sự sống động của khung cảnh trên bằng động từ sinh và coi mặt trời là chủ thể làm cho mọi vật trở nên sống động.

+ Câu thứ hai:

Dao khan bộc bố quải tiền xuyên

(Xa trông dòng thác trước sông này.)

- Thể hiện cảm nhận ban đầu của nhà thơ trước hình ảnh tuyệt đẹp của thác nước. Từ góc độ và tầm nhìn xa rộng, Lí Bạch thấy thác nước giống như một dải lụa trắng khổng lồ treo dọc trên vách núi.

- Sự kết hợp hài hoà giữa màu tía của khói sương và màu vàng của nắng, màu xanh thẫm của đỉnh núi và màu trắng xoá của dòng thác tạo nên một khung cảnh kì vĩ có một không hai.

+ Câu thứ ba:

Phi lưu trực há tam thiên xích

(Nước bay thẳng xuống ba nghìn thước)

- Đặc tả độ cao của ngọn núi Hương Lô và thác nước. Hình ảnh dòng thác tuôn từ đỉnh núi đầy mây phủ xuống chân núi thật hoành tráng và ấn tượng.

+ Câu thứ tư:

Nghi thị Ngân Hà lạc cửu thiên

(Tưởng dải Ngân Hà tuột khỏi mây)

- Sự liên tưởng độc đáo bắt nguồn từ hiện thực kết hợp với trí tưởng tượng bay bổng của nhà thơ. So sánh thác nước với dải Ngân Hà tuột khỏi mây là một so sánh thần tình khiến câu thơ được đánh giá là danh cú (câu thơ nổi tiếng để đời).

- Cảm giác kì diệu của nhà thơ khi ngắm thác núi Lư thể hiện rất rõ ở câu thơ này.

3. Kết bài:

- Bài thơ ca ngợi vẻ đẹp hùng vĩ của thác nước Lư Sơn, đồng thời thể hiện tình yêu thiên nhiên đằm thắm của Thi tiên Lí Bạch.

- Đây cũng là điểm son trong sự nghiệp sáng tác của ông, là niềm tự hào của thơ Đường luật Trung Hoa.

II. BÀI LÀM

Lí Bạch (701 - 762), là nhà thơ nổi tiếng của Trung Quốc đời Đường. Tên chữ của ông là Thái Bạch, hiệu Thanh Liên cư sĩ, quê ở tỉnh Cam Túc. Lên năm tuổi, ông cùng gia đình định cư ở làng Thanh Liên, huyện Xương Long thuộc đất Miền Châu (Tứ Xuyên). Từ lúc còn trẻ, Lí Bạch đã thích chu du khắp nơi, tìm cách tạo lập công danh, sự nghiệp. Suốt đời, ông ấp ủ lí tưởng cứu đời, giúp dân nhưng chưa bao giờ toại nguyện. Lí Bạch có tài sáng tác thơ và ông được người hâm mộ đặt cho biệt hiệu là Thi tiên. Thơ ông biểu hiện một tâm hồn tự do phóng khoáng. Hình ảnh trong thơ tươi sáng, kì vĩ, ngôn ngữ tự nhiên, điêu luyện. Lí Bạch viết nhiều bài rất hay về đề tài chiến tranh, thiên nhiên, tình yêu và tình bạn. Trong mảng viết về thiên nhiên, Xa ngắm thác núi Lư là bài thơ độc đáo có giá trị muôn đời.

Phiên âm chữ Hán:

Vọng Lư Sơn bộc bố

Nhật chiếu Hương Lô sinh tử yên,

Dao khan bộc bố quải tiền xuyên.

Phi lưu trực há tam thiên xích,

Nghi thị Ngân Hà lạc cửu thiên.

Dịch nghĩa:

Xa ngắm thác núi Lư

Mặt trời chiếu núi Hương Lô, sinh làn khói tía

Xa nhìn dòng thác treo trên dòng sông phía trước

Thác chảy như bay đổ thẳng xuống ba nghìn thước

Ngỡ là sông Ngân rơi tự chín tầng mây.

Dịch thơ:

Nắng rọi Hương Lộ khói tía bay,

Xa trông dòng thác trước sông này.

Nước bay thẳng xuống ba nghìn thước,

Tưởng dải Ngân Hà tuột khỏi mây.

Tên chữ Hán của bài thơ là Vọng Lư Sơn bộc bố, có nghĩa là nhìn từ xa, thác nước trên núi Lư chảy xuống giống như một tấm vải trắng khổng lồ treo trước mặt. Tên bài thơ đã thể hiện sự tinh tế trong cảm nhận cảnh vật và tài hoa của thi sĩ.

Với những hình ảnh tráng lệ, huyền ảo, bài thơ đã miêu tả một cách sinh động vẻ đẹp của thác nước chảy từ đỉnh Hương Lô thuộc dãy núi Lư; qua đó thể hiện tình yêu thiên nhiên đằm thắm và phần nào bộc lộ tính cách mạnh mẽ, khoáng đạt của tác giả.

Nhà thơ ngắm thác nước từ xa. Từ điểm nhìn đó, nhà thơ không thể miêu tả một cách chi tiết, tỉ mỉ nhưng lại có lợi thế là được thưởng thức toàn cảnh và ông đã miêu tả thành công vẻ đẹp độc đáo của thác Lư Sơn.

Nhật chiếu Hương Lô sinh tử yên

(Nắng rọi Hương Lô khói tía bay)

Câu thơ phác hoạ ra cái phông nền hoành tráng, tương xứng với hình ảnh phi thường của dòng thác. Ngọn Hương Lô hiện lên với những đỉnh núi cao chất ngất, quanh năm mây mù bao phủ. Người đời đã đặt tên cho nó là Hương Lô (lò hương). Lí Bạch không phải là người đầu tiên phát hiện ra nét đặc trưng đó. Ba trăm năm trước, trong Lư Sơn kí (ghi chép về Lư Sơn), nhà sư Tuệ Viễn (334 - 417) đã tả: Khí bao trùm trên đỉnh Hương Lô mịt mù như hương khói. Cái mới mà Lí Bạch đem tới cho Hương Lô là miêu tả vẻ đẹp của nó dưới ánh nắng rực rỡ. Hơi nước bốc lên, phản quang ánh sáng mặt trời đã chuyển thành màu tía lung linh, huyền ảo. Sự thực là hơi khói đã có từ trước, nói đúng hơn là tồn tại thường xuyên, song dưới ngòi bút của Lí Bạch, với động từ sinh, ánh sáng mặt trời xuất hiện như chủ thể làm cho mọi vật trở nên sống động.

Những vẻ đẹp khác nhau của thác nước được tác giả miêu tả trong ba câu tiếp theo:

Dao khan bộc bố quải tiền xuyên

Phi lưu trực há tam thiên xích

Nghi thị Ngân Hà lạc cửu thiên.

(Xa trông dòng thác trước sông này

Nước bay thẳng xuống ba nghìn thước

Tưởng dải Ngân Hà tuột khỏi mây).

Câu Dao khan bộc bố quải tiền xuyên thể hiện cảm nhận ban đầu của nhà thơ trước khung cảnh hùng vĩ của thác nước. Qua cái nhìn đầy thú vị và trí tưởng tượng bay bổng của Lí Bạch, thác nước tuôn đổ ầm ầm từ đỉnh núi cao xuống trông giống như một dải lụa trắng khổng lồ treo trên vách núi. Trên đỉnh núi khói tía bốc mịt mù, dưới chân núi dòng sông ầm ầm tuôn chảy, khoảng giữa là thác nước treo cao như dải lụa bạch, quả là một bức tranh đẹp đẽ và hoành tráng lạ thường!

Câu này còn có một cách hiểu khác. Quải là treo, tiền xuyên là dòng sông phía trước. Có người cho rằng dòng sông phía trước không phải là vị trí nơi thác đổ xuống mà là hình ảnh dùng để so sánh với dòng thác nhìn từ xa. Nếu vậy thì cả câu có nghĩa là: Đứng xa trông ngọn thác giống như một dòng sông treo trước mặt. Thật là một hình tượng tuyệt mĩ được tạo nên bởi sức liên tưởng vô hạn của nhà thơ.

Ở bản dịch, câu Xa trong dòng thác trước sông này vì đánh rơi mất chữ treo là chữ quan trọng nhất của câu thơ nên ấn tượng kì vĩ do hình ảnh dòng thác gợi ra biến mất. Trực tiếp tả thác song đồng thời tác giả lại giúp người đọc hình dung được thế núi cao và sườn núi dốc đứng, nên mới có cảnh Nước bay thẳng xuống ba nghìn thước thật ấn tượng như vậy.

Vẻ đẹp huyền ảo của thác nước được nhà thơ miêu tả trong câu kết. Tác giả đã tỏ ra xuất sắc trong việc dùng các từ Nghi (ngỡ là), lạc (rơi xuống) và hình ảnh Ngân Hà. Ví thác nước giống như dải Ngân Hà tuột khỏi mây là một so sánh độc đáo chưa từng có. Sông Ngân Hà là dải sáng màu trắng vắt ngang bầu trời do hàng triệu ngôi sao li ti hợp thành, thường nhìn thấy trong những đêm trời quang. Sự xuất hiện của hình ảnh Ngân Hà ở cuối bài đã được chuẩn bị từ hai câu đầu. Vì ngọn núi Hương Lô luôn có mây mù bao phủ nên nhìn xa, thác nước đã được hình dung như một tấm lụa bạch lớn treo rủ, khiến người nhìn ngắm dễ liên tưởng tới dải Ngân Hà từ chân mây tuôn xuống. Mặt khác, trong thần thoại truyền thuyết Trung Hoa, Ngân Hà cũng được quan niệm như một dòng sông thực sự. Chữ lạc dùng rất đắt vì dòng Ngân Hà vốn nằm theo chiều ngang vắt qua bầu trời, còn thác nước lại đổ theo chiều thẳng đứng từ đỉnh núi cao xuống mặt đất. Câu thơ cuối cùng này được coi là danh cú (câu thơ, câu văn hay nổi tiếng) vì đã kết hợp được một cách tài tình yếu tố chân thực và yếu tố huyền ảo, đặc tả được cảm giác kì diệu do hình ảnh thác nước gợi lên trong tâm khảm nhà thơ và để lại dư vị đậm đà trong lòng người đọc.

Bài thơ Xa ngắm thác núi Lư của Lí Bạch ca ngợi một danh thắng của đất nước Trung Hoa. Nhà thơ đã làm nổi bật vẻ đẹp kì vĩ của thác nước Lư Sơn và gửi gắm vào đó tình yêu thiên nhiên đằm thắm của mình. Văn tức là người. Bài thơ hé lộ cho ta thấy phần nào tâm hồn phong phú, trái tim nhạy cảm và tính cách mạnh mẽ, phóng khoáng của bậc Thi tiên họ Lí.